FRIPMUTCE_NOVEMBER+0000RNOVEMBER_SHORTPMUTC_0C2

vtdl

Làng Kế Môn chạy dài khoảng 2,4 km, phân bố theo chiều dải đất hẹp nằm giữa sông và biển theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Phía Nam giáp sông Ô Lâu, phía Đông Bắc là Biển Đông, phía Tây Bắc giáp làng Vĩnh Xương, phía Đông Nam giáp làng Đại Lộc. Ruộng đất canh tác làng Kế Môn chỉ chiếm 10% đất tự nhiên, do đó người dân Kế Môn với bản tính siêng năng, cần cù, chịu khó, kết hợp sự giúp đỡ và uy quyền của các quan lại người Kế Môn trong triều đình phong kiến, đã tích cực khai phá đất hoang để mở rộng diện tích canh tác. Nhờ vậy ruộng làng Kế Môn trải khắp hai bên bờ sông Ô Lâu và các cồn như cồn Chứa, cồn Thót, cồn Huyện thuộc địa phận làng Thế Chí Tây (nay thuộc xã Điền Hòa) khoảng 100 ha, cồn Đại Lộc bên kia sông Ô Lâu, trước mặt phía Đông Nam làng Kế Môn khoảng 250 ha.

Năm 1985, nhà nước đã thu hồi đất ở các cồn: cồn Chứa, cồn Thót, cồn Huyện, giao cho dân xã Điền Hòa canh tác.

Riêng cồn Đại Lộc qua quá trình canh tác, Ngài Thủy Tổ của làng Kế Môn không có con trai, chỉ có một con gái bán gả cho người Đại Lộc và ông chuyển giao hồ sơ 250 ha ruộng đó cho người con rể, khi ông qua đời. Từ đó làng Kế Môn không còn ruộng ở cồn Đại Lộc nữa (có ý kiến khác cho rằng người con rể đã ăn cắp giấy tờ hồ sơ về ruộng đất cồn Đại Lộc đó lúc ông bố vợ phơi vì giấy tờ bị ướt).

Hay như thời kỳ các cụ Nguyễn Thanh Oai, Nguyễn Lộ Trạch đã đưa một số bà con của hai Cụ thuộc Họ Nguyễn Thanh vào khoanh vùng khai phá ruộng ô ở làng Hà Trung, huyện Phú Vang. Do đó, nay có một phái Nguyễn Thanh dân Kế Môn định cư ở làng Hà Trung này.

Làng Kế Môn có diện tích đất tự nhiên khoảng 1100 ha (khoảng 780 ha đất được sử dụng do hợp tác xã quản lý và hơn 329 ha do xã Điền Môn quản lý), trong đó có khoảng 222 ha đất canh tác (đất ruộng 186 ha, đất trồng màu 30 ha, đất trồng cây công nghiệp ngắn ngày 6 ha), trên 140 ha đất lâm nghiệp, trên 400 ha đất chuyên dụng (xây dựng cơ bản, giao thông, thủy lợi, đất mồ mả) và gần 11 ha đất thổ cư.

Sau lưng, phía Đông, là động cát rộng kéo dài hơn 1 km ra tận biển Đông (Thái Bình Dương). Phía Đông, làng dựa vào chân dải động cát trắng với rừng cây tán nhỡ và thấp. Nhờ rừng cây tán nhỡ và thấp này đã bảo vệ ngăn chặn những cơn gió, bão cát từ biển thổi vào, di chuyển lấn đất đất khu dân cư và đất đai canh tác. Dân làng dùng khu động cát này làm nơi chôn cất người quá cố, xây cất mồ mả, lăng miếu. Động cao nhất làng là động Mít Nài, có vị trí gần giữa làng về phía sau rú. Đứng trên động Mít Nài có thể nhìn rõ đồng ruộng mênh mông trước mặt làng với dòng sông Ô Lâu trong xanh mà khúc sông nước chảy vòng uốn cong gọi là Khúc Bàu Ngược, trông như bóng đầu rồng múa lượn mà thân rồng vươn dài đến tận Đồng Dạ (giáp giới thôn Đại Lộc), và xa xa phía Tây là dãy núi Trường Sơn hùng vĩ đứng sừng sững như tấm bình phong khổng lồ và kiên cố che chở cho làng Kế Môn.

Qua dải động cát trắng, nếu đi tiếp về hướng Đông, lội qua con khe nhỏ mà dòng nước mát xuất phát từ các bàu (bàu Bội, bàu Bể, bàu Đán, bàu Lấp, bàu Môn…) có nước quanh năm và chảy ra theo khe Đồng Dạ, ranh giời giữa Kế Môn và Đại Lộc. Nguồn nước tự chảy này dùng để tưới ruộng lúa.

Qua khe đó, đi tiếp về hướng Đông là cả vùng rộng lớn động cát vàng, khoảng hơn 1 km là đến tận biển Đông (Thái Bình Dương).

Trước mặt làng, hướng Tây Bắc – Đông Nam là đồng ruộng mênh mông từ đường Ngang ra tận bờ “rào” (bờ sông Ô Lâu) với hệ thống giao thông đường bộ, mương tưới, mương tiêu cũng là hệ thống vận chuyển đường thủy rất thuận tiện:

Đứng trên cao động Mít Nài ngó quanh

Trước làng cánh đồng lúa xanh bát ngát

Sông Ô Lâu nước biếc chảy xuôi dòng

Trường Sơn một dải xa trông oai hùng

Sau lưng làng động cát vàng mênh mông

Lắng nghe sóng vỗ tiếng dội biển Đông…

Trước đây nhiều thầy địa lý có dịp đến thăm làng Kế Môn đều khen phong thủy thổ làng có  nhiều nét đặc thù. Qua quá trình đi công tác, tham quan và khảo sát nhiều thôn xã từ Bắc chí Nam, ngay cả các làng cùng một dải đất với làng Kế Môn cũng không thấy có địa phương nào có lối xây dựng khu dân cư, hệ thống giao thông vận chuyển đường bộ và đương thủy, kiên thiết đồng ruộng, chia ruộng, trưa ra từng dòng và đặt theo vần thơ, đắp bờ vùng bờ thửa, mương tưới mương tiêu thẳng tắp, quy củ, khoa học và mỹ thuật như các vị tiền bối của làng Kế Môn đã làm, kiến tạo cho quê hương làng Kế Môn trở nên một trong những làng vừa đẹp vừa có quy củ khoa học như vậy.

Tuy nhiên về phương diện thiên nhiên, làng Kế Môn cùng có những đặc tính chung của miền Trung, sông ngòi ngắn và cạn, đất đai nhẹ pha cát, ruộng chua phèn, nông nghiệp nghèo nàn, không có công nghiệp, mưa nắng hai mùa, đặc biệt vào những tháng 6,7,8 gió nóng từ Hạ Lào thổi qua đèo Lao Bảo tràn vào Quảng Trị, Thừ thiên – gọi là gió Lào, rất nóng và oi bức. Cùng chịu ảnh hưởng khí hậu khắc nghiệp của vùng Thừa Thiên: nóng ẩm, mưa nhiều, ngập lụt về mùa mưa, nhiệt độ trung bình hàng năm là 25° C, độ ẩm trung bình 84%, nhất là vào mùa lạnh. Nắng nóng dẫn đến hạn hán kéo dài từ tháng 5 đến tháng 8, và lạnh vào tháng 12 đến tháng 1,2. Mưa liên tục từ tháng 9 đến tháng 12 với lượng mưa trung bình hằng năm là 2.744 mm, lượng mưa vào tháng 10: 740mm, cực tiểu vào tháng 3: 50 mm. Mưa nhiều và tập trung vào một số tháng đã tạo ra tình trạng ngập lụt thường xuyên.

System.String[]